Ở Hải Phòng, họ chơi nhầm lớn: xây hẳn căn nhà hai tầng trên đất hàng xóm. Chính quyền bối rối, mạng xã hội đã “bonus” cú nhầm khác, gán thêm cho ông Phó Giám Đốc CA Thành Phố, chức “chú bác họ xây nhầm”. Ông Điệp phải ra tuyên bố: không bà con, không uống chung trà đá. Dân mạng ngớ người: để giữ danh dự, ghế, phải chứng minh… mình không có họ hàng. Rốt cuộc, nhà thì không dỡ, lời đồn không gỡ, còn dư luận thì phải tiêu hóa một bữa tiệc “nhầm” no nê.
Na, một phụ nữ rất giỏi, làm hết phần lớn công việc của Hội và Văn phòng của Sở.
Nhiều người khen, nhiều người không thích vì cô thẳng tính, hiểu rõ vấn đề rất nhanh và nói đúng những gì xảy ra. Ở đây, Na không bao giờ lên chức được, làm phó suốt đời. Nhưng cô rất tự hào và vẫn vui vẻ với những “Chức to mắt thường không nhìn thấy” của mình. “Quan trọng là giúp được mọi người, giúp được bản thân,” như cô nói.
Rất nhiều người tìm gặp cô mỗi khi đến tỉnh.
Thời nay, ai ham hiểu hiểu biết thật sướng. Lên Internet tìm thấy hết. Chỉ khó biết đúng sai. Ai nhiều bạn “ảo” thì nguồn tin càng vô tận.
Thông tin vô tận thật là nguy hiểm vì… chúng phải từ đâu ra và lan tỏa rất nhanh nhờ những người tốt bụng muốn chia sẻ miễn phí nhanh nhất với cả thế giới.
Họ chia sẻ thông tin chứ không chia sẻ tiền hay trách nhiệm.
Nhà nước cũng là một trong số đó.
Người dân phải tin ai chứ !
Một nghịch lý thú vị đang diễn ra ở Việt Nam: một mặt, Đảng thường xuyên khẳng định tầm quan trọng của doanh nghiệp tư nhân, coi họ là động lực phát triển đất nước, kêu gọi tạo môi trường bình đẳng, cạnh tranh công bằng. Nhưng mặt khác, trong các thông điệp gần đây, người dân lại được khuyến cáo “không nên mua vàng tại cửa hàng tư nhân nhỏ lẻ”, thay vào đó hướng đến kênh chính thức.
Vậy thì sự bình đẳng ở đâu?
Một bên là lời hô hào đầy trang trọng, một bên là hành động như thể doanh nghiệp tư nhân chỉ đáng tin khi đứng sau cái bóng của Nhà nước. Câu hỏi đặt ra: nếu chính quyền còn e dè với vài tiệm vàng trong phố nhỏ, thì làm sao người dân tin tưởng vào một môi trường kinh doanh bình đẳng thật sự? Bình đẳng không thể chỉ nằm trong diễn văn, mà phải thể hiện ngay trong từng hành xử hằng ngày.
Ngược đời! Có lắm hạng "ông ranh"
Đạo mạo làm ra mặt lão thành!
Trước mắt long lanh đôi kính trắng,
Dưới cằm lún phún sợi râu xanh.
Đứng ngồi khệ nệ oai nghiêm giả,
Ăn nói màu mè đạo đức tuênh!
Động hé môi ra là...thở hắt,
Than cho thế thái với nhân tình.
(Nhà thơ Tú Mỡ)
Có một phát minh nghe tưởng như chuyện đùa: một chiếc máy nhỏ xíu, chỉ cần nhét vào đó một nhúm than là chạy mãi. Nghe quen quen? Vâng, đó chính là giấc mơ năng lượng sạch mà nhân loại vẫn theo đuổi. Nhưng trong trí tưởng tượng của Karel Čapek, cái máy ấy – Karburátor – không chỉ phun ra điện, mà còn “rò rỉ” luôn cả… Thượng đế.
Và thế là tai họa bắt đầu. Nhà máy biến thành nhà thờ, công nhân bỏ việc đứng giảng đạo, ông chủ doanh nghiệp bỗng thấy mình là đấng cứu thế. Thay vì tăng năng suất, xã hội lại tăng số lượng bài thuyết giảng, khẩu hiệu và “chân lý tuyệt đối”. Một nền kinh tế toàn cầu bỗng chốc vận hành bằng… cơn sốt tâm linh.
Nghe có vẻ xa xôi, nhưng hãy thử nhìn quanh: mạng xã hội ngày nay không khác gì Karburátor. Bạn nhấn nút “on” và lập tức thấy những dòng trạng thái “tuyệt đối”: người thì rao giảng đạo đức, kẻ khẳng định mình nắm chân lý, và đám đông hăng hái “phủ nhận” tất cả những gì khác. Sản xuất chẳng tăng bao nhiêu, nhưng “giáo lý online” thì tràn ngập.
Čapek muốn nhắc khéo: công nghệ không bao giờ chỉ tạo ra năng lượng. Nó còn tạo ra niềm tin, cơn sốt, thậm chí cả ảo tưởng. Vấn đề không nằm ở chiếc máy, mà ở chỗ con người sử dụng nó để làm gì. Nếu biến mọi thứ thành “tuyệt đối”, thì thay vì giải quyết khủng hoảng, ta chỉ sản xuất thêm… hỗn loạn.
Thế nên, nếu một ngày bạn thấy mình định mở một “Karburátor mới” – có thể là một phát minh, một ứng dụng hay chỉ một ý tưởng – hãy nhớ: không chỉ điện năng, mà “thần thánh” cũng sẽ theo đó mà tuôn trào. Và khi ấy, xin đừng quên: tốt nhất là vẫn nên đi làm, thay vì biến phòng họp công ty thành… nhà nguyện.
Mơ 24, à 23 tuổi rưỡi trầm trồ: “Chị thật đẳng cấp! Túi Hemes đấy!” Trời, túi thôi đắt hàng tỉ vậy?
Một mình vào quán, em Linh nhờ: “Giúp em 2 cái ghế.”
À, 1 ghế để đặt chiếc túi mua ở tận Pari, vài trăm triệu.
Hiền, làm bệnh viện, không có túi để khoe.
Nhưng tôi thèm được đẳng cấp như em. Em và chồng bảo trợ 7 trẻ em nghèo ở Yên Bái nhiều năm rồi.
Tổng số tiền gửi các em hàng tháng suốt bấy nhiêu năm chắc thừa đủ mua nửa chiếc túi Hemes.
Mọi người lo sợ (AI-Trí Tuệ Nhân Tạo) sẽ thống trị con người. Không bao giờ có chuyện đó. Tôi hiểu điều đó khi xem đối thoại của ChatGPT và một người dùng, ngành văn hóa của một Quận ở Hà Nội. Sau khi bắt AI viết nhiều bài về một sự kiện văn hóa khu Hồ Trúc Bạch, vị này không hài lòng và chửi rất nhiều lần “Đ…m mày không hiểu à? Bịa à? … “ ChatGPT vẫn lịch lãm trả lời: “Tôi xin lỗi…” AI không bao giờ thay thế được con người vì quá lịch sự.
Tôi bị đuổi khỏi trường Đại Học Hàng Hải vào năm cuối cùng. Nói theo ngôn ngữ nghề nghiệp là tôi … “chết đuối trên bờ”.
Về nguyên nhân, tôi thấy không cần thiết phải kể ra đây, bởi lẽ, tôi sinh ra và lớn lên trên một đất nước vốn có nền văn học sướt mướt. Thêm chút nước mắt mà bạn đọc đã khóc nàng Kiều và các nhân vật X, Y, Z chỉ làm ngập lụt ngòi bút những nhà phê bình mẫn tiệp đang gò mình cố gắng tìm chỗ khô ráo cho các tác phẩm mang tính chiến đấu.
Chia tay với lũ bạn, tôi lấy giọng tráng sĩ Kinh Kha (ra đi không trở lại):
“Chúng mày cố xây dựng nền hàng hải Việt Nam ngang bằng với Lào, Thái Lan …”
Thằng Tiên ngắt lời:
“Còn nước nào mày kể nốt ra”.
Tôi trả lời chẳng cần suy nghĩ:
“Mỹ!”
Cả bọn phá lên cười.
Thằng Linh bảo:
“Muốn vậy, mỗi thằng ngồi đây phải làm đắm một triệu con tàu …”
Về lại nơi sinh ra, chiều nào tôi cũng ra biển ngắm sóng lẩm nhẩm đọc đoạn văn viết từ năm thứ nhất …
“Ta sinh ra trong rừng đêm nhiệt đới chỉ quen những ao hồ tù túng, một ngày mẹ dặn ta rằng phải nhìn thấy biển. Mười tuổi đầu ta mới dìm đôi chân nhỏ bé trong làn biển nước xanh, biển ve vuốt chân ta trìu mến, sóng kể chuyện phiêu lưu, ta biết ta là hữu hạn mà biển là vô cùng.”
“Tự ngàn năm biển vẫn ôm bờ đất, muốn hiểu biển phải thuộc gia phả của bao đời thủy thủ và nghe rành khúc hát ngư dân.”
“Sử nước ta bắt đầu từ khi Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ đem con lên rừng xuống biển (Ôi! Âu Cơ mà nghe như Âu Ca) …”
“Biển là mẹ đừng bao giờ bỏ biển. Gã trai chài bị biển khước từ chắc sẽ có lần them ngửi lại mùi rong rêu trên luống biển và nghe khúc hát mặn mà của nàng tiên cá …”
Thấy tôi giống kẻ mất hồn, bác Dương bảo:
“Tao sẽ gửi mày đi theo tàu Lý Lăng buôn hàng sang Trung Quốc.”
Lý Lăng người gốc Hoa. Gã tự giới thiệu là hậu duệ một bộ tướng tâm phúc dưới trướng thủ lĩnh giặc cờ đen Lưu Vĩnh Phúc. Tôi không quan tâm tới chi tiết này. Bởi lịch sử nước mình rất mù mờ, kể cả ở các bậc được gọi là vĩ nhân.
Dáng dấp Lý Lăng toát lên vẻ hải hồ, nhìn gã ta ngửi thấy mùi biển, mùi máu. Nhưng ngược lại gã hiền như cá heo. Khi nào gã xúc động thì cái nốt ruồi mọc giữa huyệt nhân trung chuyển sang màu đỏ. Thỉnh thoảng tôi hay vào phòng Lý Lăng. Tiếng làm thuyền trưởng mà phòng gã cực kỳ giản đơn, vật trang trí duy nhất là chữ Tâm bằng chữ Hán viết mực tầu in trên giấy dó. Dựng sát đầu giường, chiếc bơi chèo bằng sắt, một tấm lưới gắn các chùm lưỡi câu đồng đen cực bén, mọi người kháo nhau hai thứ đó là võ khí lợi hại gã dùng trong trường hợp phải cận chiến. Lý Lăng không tuân thủ theo các khế ước bất thành văn của dân sông nước. Gặp người sắp chết đuối, gã bắt dừng tàu và nhảy xuống cứu, gã bảo: “Kẻ ích kỷ thường bao biện thần biển sẽ trừng phạt những ai cứu người sắp chết, bởi đó là đồ tế lễ. Không phải vậy đâu, tàu thuyền thuở xưa chật chội, lương thực mang theo ít ỏi, học phai trí trá như vậy để che đậy sự bần tiện, nhẫn tâm vô sỉ …”Về điểm này, tôi thấy gã có lý. Gã hỏi tôi: “Trong trường họ dạy cậu về biển thế nào?” Tôi bảo: “Phải chế ngự nó.” Gã làu bàu: “Vớ vẩn! Thiên nhiên khó mà chinh phục được. Thằng điên nào nói câu đó vậy?” Tôi trả lời: “Ông Marx! Ông ta không điên đâu.” Gã cười:”Không điên thì ngông cuồng. Ai mà tin thì chỉ có chết. Cậu nhìn kìa!”Gã chỉ tay xuống biển đang ngả màu tím sẫm: “Lúc trước, tôi cũng nghĩ vậy, để rồi vợ con nằm cả dưới đấy …” Gã ngừng nói, cái nốt ruồi ở huyệt nhân trung chuyển sang màu đỏ …
… Tàu chúng tôi buôn mèo, trầm hương, thảo quả, quế chi sang Trung Quốc và buôn phụ tùng xe đạp, máy may, xe máy … ngược về.
Cách hải phận Trung Quốc không xa, tàu thường ghé đảo Mây – đảo cách đất liền 40 hải lý. Đảo giống hình chiếc khuy nhỏ nhoi trên tấm áo đại dương. Dân cư khoảng hơn hai trăm nóc nhà. Anh Tấn – cựu đặc công thủy, nói với tôi: Sống nơi này lâu tao điên mất. Thật vậy, so với cư dân trên đảo, thì chó phải gấp mười lần. Chỉ cần mấy bao thuốc lá đổi được một con chó. Tàu tuần tra hải quân hình như cũng chẳng muốn vòng vo quanh đảo, vì vậy có thể nói, đây là thế giới an lành.
Anh Tấn bảo:
“Mày biết không? Cả đời tao chưa bao giờ được ngắm bình minh.”
Tôi hỏi:
“Tại sao?”
Anh Tấn trả lời:
“Khi chưa đi bộ đội, tao làm công nhân mỏ phải chui dưới hầm đào than, làm ca đêm, ngày ngủ thì làm sao thấy được mặt trời mọc. Lúc vào lính ngày ngủ dưới hầm, đêm mò vào đồn, bây giờ đi buôn lậu, ngày ngủ đêm thức thời gian đâu mà ngắm bình minh …”
Nghe anh Tấn kể, tôi cố hiểu nhưng không giải thích được. Hồi ấy, tôi còn trẻ nên chẳng mấy khi băn khoăn về nỗi niềm uẩn khúc trong số phận mỗi con người, sau này tôi phải day dứt nhiều về sự hời hợt ấy. Thời gian lưu lại trên đảo Mây lấy thêm nước ngọt, tìm ra kẽ hở tàu tuần tra để hàng hóa trót lọt kéo dài ba tới năm ngày là cùng. Lúc hết việc tốp thủy thủ lang thang tới nhà ngư dân nói chuyện.
Đảo sặc mùi cá biển, loài thảo mộc mọc nhiều trên đảo là xương rồng và cây chó đẻ (hai giống cây vô tích sự). Anh Tấn nói:
“Ngay tên cây đã đầy vẻ bịp bợm. Chó làm sao đẻ ra cây, mà cũng chẳng có rồng sao biết đấy là xương.”
Tôi bảo:
“Gọi vậy cho nó hình tượng …”
“Đừng đem cái giọng thằng trí thức thất sủng ra nói với tao. Chỉ ở trong nghệ thuật mới cần hình tượng, còn mọi thứ ngoài đời tục tĩu bỏ mẹ! Tao cũng có làm thơ đấy …”
Bài thơ anh Tấn làm tôi không nhớ hết, bài thơ đó mang tên: Không Được Ai Vuốt Mắt.
Cánh diều tuổi thơ tôi chết đứt dây
Chỉ có gió vô hình dung vuốt mắt
Ngày tôi đi lính em lấy chồng
Trái tim tôi không được ai vuốt mắt
Không nhìn thấy bình minh suốt thời tuổi trẻ
Tôi làm thợ đào than
Than đen!
Có nghìn ức tuổi
Chiến tranh cũng mầu than
Tôi ngủ dưới hầm
Ra khỏi hố lúc nhọ mặt người
Cũng chẳng thấy mặt trời ló dạng
Giờ lang thang ban đêm trên biển
Bình minh khuất dạng nơi nào?
Ai sẽ vuốt mắt cho tôi?
Câu hỏi ấy xoáy vào lòng mỗi tối …
… Lý Lăng chỉ tay vào thằng bé khoảng mười sáu tuổi đang gò mình cõng sọt cá nặng trĩu:
“Cậu nhìn kìa! Nom hiền lành vậy mà từng giết người từ năm mười hai.”
Tôi lân la làm quen với nó, sau nhiều lần ghé đảo tôi đánh bạo hỏi:
“Sao em lại giết người, mà giết ai vậy?”
Thằng bé trả lời:
“Tui có giết người đâu, tui lấy dao mổ bụng em tui ra xem có giống bụng cá không!”
Tôi thuật lại cho Lý Lăng nghe, nốt ruồi giữa huyệt nhân trung của gã đỏ lên, gã bảo:
“Tôi được chứng kiến nhiều vụ án còn khủng khiếp hơn ở ngay các chốn văn minh nơi đô thị. Những kẻ sát thủ đi xe đời mới có máy điều hòa nhiệt độ, chúng không giết một người, không mổ bụng ai cả …”
Tôi ngắt lời:
“Như vậy có gì mà khủng khiếp?”
Lý Lăng bảo:
“Giết bằng chữ ký, chết dần chết mòn cả giòng họ. Như cậu cũng tàn cả đời vì chữ ký đó thôi, cần gì nhìn đâu xa.”
… Cư dân trên đảo có vẻ nể sợ Lý Lăng. Cụ già coi đền thờ cá voi nói với tôi và anh Tấn:
“Cách đây vài chục năm, ông ấy là con cọp trên biển đấy.”
“Thế còn trên đất liền hay trên đảo?”
Anh Tấn hỏi. Cụ già trả lời:
“Là thánh nữ mang khuôn mặt đàn ông.”
Đua thuyền – ngày vui vẻ nhộn nhịp nhất của người dân trên đảo, cách thức đua tôi chưa từng thấy ở bất kỳ nơi đâu. Cả đoàn thuyền vài chục chiếc sắp hàng ngang, mỗi chiếc thuyền ba người, hai người chèo, một người phóng lao, mục tiêu là những tấm ván nhỏ đẽo hình các giống cá trồi lên trụt xuống trên sóng biển. Thuyền nào về đích sớm, phóng lao trúng nhiều mục tiêu được thưởng cái đầu trâu vừa cắt rời khỏi thân vẫn còn ròng ròng máu. Tôi đã được chia sẻ phần thưởng ấy ngay tại nhà thằng bé từng mổ bụng em nó để xem … “có giống bụng cá không …” dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn thắp bằng mỡ cá.
Nơi góc nhà, lân tinh trong đống mai mực hắt ra xanh lè, bố nó, người đàn ông đoạt giải kiệm lời lặng lẽ tiếp rượu cho tôi, còn thằng bé dùng con dao cắt chão thuyền sắc lẻm lóc từng miếng thịt đầu trâu vừa luộc xong còn bốc khói cho vào miệng nhai trệu trạo.
… Bố thằng bé lên tiếng:
“Không có Lý Lăng thì đời tôi bồng bềnh nổi trôi như con sứa, trắng tay như dã tràng.”
Đêm – ông kể cho tôi nghe về một phần đời …
“Hồi ấy, tôi phụ trách hai chiếc tàu chuyên chở vũ khí, thuốc men, lương thực từ Bắc vào Nam, cuộc chiến bấy giờ đang vào điểm quyết liệt, mười chuyến đi lọt được một. Trên đầu máy bay từ các hạm đội Mỹ lượn suốt ngày đêm, ra khỏi hải phận thì đụng phải tàu chiến cày ngang dọc trên biển. Thế rồi việc gì đến phải đến tàu tôi chạm thủy lôi, sức ép làm tôi bất tỉnh may mà mặc áo phao trước đó nên thoát khỏi làm mồi cho cá. Trôi giạt suốt đêm tưởng cầm chắc cái chết thì gặp tàu Lý Lăng.”
Thời gian đó Lý Lăng hành nghề hải tặc, gã tấn công vào các thuyền vận tải của nhà nước. Lý Lăng có một nguyên tắc bất di bất dịch – không cướp bóc thuyền ngư dân. Gã khôn ngoan, mưu lược, tránh đụng độ với tàu hải quân, ngoại trừ khi bị truy đuổi, bị dồn vào bước đường cùng. Với cách đánh táo bạo, lì lợm, khi tàu hải quân áp sát bắt đầu hàng, gã mới tung đòn quyết định. Đám thuộc hạ và Lý Lăng toàn là dân giang hồ cực giỏi khi đánh cận chiến nên chưa bao giờ bị thất bại. Tôi đã tận mắt thấy Lý Lăng cắt gân chân thuyền trưởng một chiếc tàu hải quân khi ông này bị bắt giữ, ông ta mắng Lý Lăng: Tổ quốc đang bị xâm lăng không đi bộ đội giải phóng miền Nam mà lại đi ăn cướp. Lý Lăng mắng lại: Chỉ huy như mày còn thua cả tao, súng ống đầy tàu cũng vô tích sự, mấy hòn đảo trên hải phận Việt Nam bị người Trung Quốc cho di dân tới để chiếm đất mà chúng mày câm miệng hến, thì đòi giải phóng tổ quốc cái con mẹ gì!
“Sau khi thu hết vũ khí, lương thực trên tàu, Lý Lăng cắt gân chân ông thuyền trưởng, gã nói: Cho mày cái danh hiệu thương binh …”
Tôi hỏi:
“Thế luật pháp không làm gì được Lý Lăng sao?”
Bố thằng bé trả lời:
“Hồi đó đang chiến tranh còn nhiều việc khiến nhà nước quan tâm hơn. Sau này Lý Lăng mai danh ẩn tích một thời gian dài, thay đổi hình dạng rồi chuyển sang buôn lậu thì có thánh cũng chẳng lần ra, vả lại dân giang hồ trên biển tuy ăn to nói lớn nhưng kín miệng …”
“Còn bác thì theo Lý Lăng từ thời gian đó?”
“Tôi chán tất cả, chiến tranh kéo dài số phận bấp bênh, quay về đất liền dễ mang tiếng không hoàn thành nhiệm vụ …”
Bố thằng bé thở dài. Ông nói tiếp:
“Cũng có chút nghĩa tình trong đó, Lý Lăng cứu mạng tôi và sau này còn giúp tôi nhiều việc nữa. Đảo Mây lúc trước toàn ngư dân Trung Quốc ở. Lý Lăng bàn với chúng tôi, gã nói: Đánh trận cuối cùng nhé, giành lại đảo này cho người mình, sau trận này vất hết vũ khí … Chúng tôi chiếm đảo chẳng khó khăn gì, Lý Lăng lùa hết dân trên đảo lên thuyền cho họ lương thực và mang theo toàn bộ tài sản bắt họ trở về Trung Quốc …”
“Lý Lăng là người gốc Hoa kia mà!”
Tôi thắc mắc. Bố thằng bé trả lời:
“Lý Lăng nói với mọi người. Tôi sinh ra trên mảnh đất này nên phải có nghĩa vụ. Khi chiếm được đảo, việc đầu tiên Lý Lăng làm là bỏ tiền của xây nhà cho đám thuộc hạ giải nghệ, mua sắm thuyền bè, ngư cụ tạo điều kiện cho họ hoàn lương. Tôi lên đảo từ dạo ấy, dân cư đông dần lên toàn những thành phần bị đất liền ruồng bỏ, tứ cố vô thân, không còn đất sống, các tay giang hồ mãi võ, đầu gấu, anh chị … Được cái khi nhập cư rồi họ hiền còn hơn các nhà tu hành đắc đạo. Chúng tôi không muốn quan tâm tới thế giới bên ngoài, hành xử theo luật lệ riêng của mình, thằng con nhà tôi mổ bụng em nó chẳng qua là vì tò mò, nó không có tội – nguyên nhân tội lỗi ở kia kìa!”
Ngón tay bố thằng bé chỉ vào cõi đêm thăm thẳm xa xăm …
Tôi bị cơn sốt vật ngã nên phải nằm lại đảo. Trước lúc nhổ neo anh Tấn tới thăm tôi, anh bảo:
“Cứ nằm đây cho khỏe, mấy bữa nữa bốc xong hàng tàu quay lại đón. Lý Lăng nhắn phần lãi vẫn chia đều cho mày. Lần này may ra tao sẽ được nhìn thấy bình minh vì tàu khởi hành vào rạng sáng.”
Đêm hôm sau, biển động mạnh, nằm trong nhà nghe tiếng sóng dữ dội, gió gào như ác thú, tôi trằn trọc không làm sao ngủ được. Hai ngày sau biển lặng, tôi dứt cơn sốt – gượng dậy đi ra bờ biển.
Trời biển trong veo, xanh thẳm, mấy con chim hải âu chấp chới trên ngọn sóng hiền lành. Tàu của chúng tôi vẫn chưa thấy về …
Ông cụ trông đền thờ cá voi thấy tôi ngày nào cũng ra biển ngóng dáng vẻ bồn chồn, sốt ruột. Ông nói:
“Cậu cứ yên tâm, Lý Lăng là con thủy thần, ông ấy sẽ quay về bình yên, đời ông đã vượt qua bao nhiêu bão tố, cơn vừa rồi là cơn bão còi cậu ạ! Nếu cậu muốn về tôi sẽ gửi theo tàu đánh cá, ngày nào họ cũng ghé đây đổi gạo, từ đây vào đất liền chỉ có bốn mươi hải lý thôi, chứ xa xôi
Bên đống rác có con chuột chết,
Đống thịt xương rữa bét nát be,
Nắm lông những máu những me,
Lẫn cùng bùn đất bê bê nhụa nhầy.
Giòi với bọ một bầy nhung nhúc,
No nê rồi chui rúc len tranh,
Vo ve một đám ruồi xanh,
Bay lên đậu xuống lượn quanh lăn vào…
Làn gió thoảng đưa phào qua mũi,
Mọt thứ mùi hôi thối lợm nôn.
Khách qua rảo cẳng bước dồn,
Rùng mình đi quá vẫn còn khiếp kinh.
Dưới một mái nhà tranh vách đất,
Trong một gian buồng chật điêu tàn,
Kê dài một cỗ áo quan,
Cái thây ma vẫn còn quàn đợi chôn.
Mùi khói nhạt hương tuôn phảng phất,
Lẫn với mùi ẩm thấp hôi tanh.
Chập chờn ngọn nến rung rinh,
Khí âm lạnh lẽo khiếp mình sởn gai,
Chung quanh chiếc quan tài quàn đó.
Độ vài mươi mâm cỗ ngổn ngang.
Tiết canh, lòng lợn, mỡ màng,
Bò thui thịt tái còn loang máu đào,
Người tấp nập ồn ào rộn rã,
Trẻ lẫn già chén đã ngà say.
Rượu ty tờm tợp chén đầy,
Hơi nồng ngùn ngụt mặt mày đỏ vang.
Họ ăn uống nhồm nhoàm khạc nhổ,
Áo ướt đầm người đổ mồ hôi,
Hơi men xông lẫn hơi người,
Pho vào hơi chết thành mùi gớm ghê.
Trông thấy cảnh rượu chè be bét,
Quanh cái thây người chết tanh hôi.
Khiến ta nghĩ đến đàn giòi,
Bâu vào đống thịt chuột toi bên đường.