Skip to main content

Nếu bạn từng ăn ở nhà hàng Tàu, chắc quen cảnh nhân viên dẫn đến trước bể cá: “Anh chị chọn con nào ạ?” Những con cá béo múp lượn quanh, chưa biết số phận mình sắp được “lên bàn”. Câu chuyện kinh tế Việt Nam hôm nay – tiếc thay – cũng giống vậy. Chỉ khác là “đầu bếp” là cơ quan điều tra, còn “bể cá” là giới doanh nhân từng được tung hô trên truyền thông.

Trong vài năm qua, người ta đã quá quen với những cái tên từng sáng rực trên bảng vàng Forbes rồi bỗng chốc chìm vào bóng tối. Từ Trịnh Văn Quyết của FLC, Đỗ Anh Dũng của Tân Hoàng Minh, Trương Mỹ Lan của Vạn Thịnh Phát, đến Trần Quí Thanh – “ông vua nước giải khát”. Tất cả đều đi chung một con đường: khởi đầu bằng những giấc mơ lớn, kết thúc bằng chiếc còng lạnh.

Tháng 10/2025, bể cá lại sủi tăm. Cái tên mới: Nguyễn Hòa Bình – Shark Bình. Người từng hô hào “khởi nghiệp để thay đổi thế giới” nay bị khởi tố hai tội danh: lừa đảo chiếm đoạt tài sảnvi phạm quy định về kế toán. Những tầng nấc tài chính phức tạp trong hệ sinh thái công nghệ của anh được mở ra như một mê cung, và con đường ra xem ra chỉ có một – trại giam.

Chưa kịp nguội, mạng xã hội lại “dậy sóng” khi Ngân 98, biểu tượng của sắc đẹp nhân tạo và quyền lực ảo, bị bắt vì buôn bán thực phẩm giả. Cảnh cô gào thét, giãy giụa giữa trụ sở công an nhanh chóng thành meme lan truyền. Từ idol TikTok đến bị can, chỉ cách nhau vài cú share.

Từ doanh nhân ngàn tỉ đến KOL triệu follow, tất cả cùng chung một ảo tưởng: rằng danh tiếng và tiền bạc là tấm khiên bất khả xâm phạm. Nhưng ở Việt Nam, không ai thực sự đứng trên luật. Khi tiền dễ kiếm, người ta quên mất rằng luật pháp không có “nút block”.

Những vụ án nối tiếp nhau như một chuỗi domino, mỗi viên ngã lại đập vào lòng tin công chúng thêm một lần nữa. Cứ mỗi khi dư luận vừa kịp thở, lại có một cái tên mới rơi vào vòng xoáy điều tra. Người dân đọc báo sáng, nhấp ngụm cà phê, lại thì thầm câu quen thuộc:

“Lại thêm một con cá béo nữa.”

Thị trường, truyền thông, và mạng xã hội – tất cả như bể nước lớn, nơi cá lớn nuốt cá bé, và đôi khi chính cá lớn cũng bị… vớt lên. Trong một nền kinh tế mà đồng tiền chảy nhanh hơn đạo đức, câu hỏi cuối cùng vẫn cứ vang vọng, lạnh như đáy bể:

Ai sẽ là người tiếp theo?

Bà Kiểm lâm – tức vợ ông Phó Chi cục – nhiệt tình giới thiệu tôi với bà Trung úy Bu-Dích, cán bộ hưu trí ngành công an. Thay vì mời tôi về nhà, bà lại nhắn qua Zalo: “Anh cứ đến căn nhà có hàng rào găng cạnh quán trà sữa Góc Phố, phố Nhà Ngựa, là đúng chỗ.”

Mới ló chân tới cổng, tôi đã nghe vọng ra một giọng karaoke đầy nội lực:

“Bạc đồng me sừ chớ có mà phạt xe… atăng moa rắc công tê tú sàaaaaa!”

Tôi nghĩ bụng: “À ha, dân Bắc Ninh giờ hát karaoke cũng quốc tế hóa cả rồi.”

Bước vào, thấy bà Bu-Dích và một người bạn đang ngồi trên… giường gỗ, vừa đánh bài tiến lên, vừa nhâm nhi trà sữa trân châu. Bên đầu giường là bức ảnh ông chồng quá cố trong bộ quân phục, kế bên là tượng con hổ bằng thạch cao. Không rõ ngài Sơn Lâm có biết mình đang được “cúng” bằng hộp yến chưng sẵn của Vinmart không.

Thấy tôi, hai bà vội kéo chăn che bớt đôi chân đang “tự do dân chủ”, rồi mời ngồi. Bà bạn hỏi nhỏ:
– Ông ấy à?
– Phải, phóng viên đấy! – bà Bu-Dích đáp.
– Thế ông định viết báo bêu xấu chị em tôi à?

Tôi vội chống chế:
– Dạ không, chỉ muốn tìm hiểu cuộc sống của các chị từng… lấy quan chức, để rút kinh nghiệm xã hội thôi.

Hai bà nhìn nhau, rồi cùng cười khanh khách:
– Ông đừng triết lý! Đời mà, yêu quan chức cũng như trúng vé số: vui vài tháng, rồi lại hết hạn. Chúng tôi lấy vì… lương và phụ cấp thôi!

Nghe vậy, tôi gật đầu lia lịa, giả vờ thông cảm. Nhưng bà Bu-Dích lại tiếp lời, giọng trịnh trọng:
– Ông cứ viết thật vào, rằng đàn bà như chúng tôi là loại bỏ đi, xã hội không cần kể tới. Nhưng nhờ chúng tôi mà cả họ được nhờ – có nhà, có sổ đỏ, có thẻ BHYT hạng nhất!

Tôi chưa kịp cười thì một đám trẻ con chạy vào. Thằng bé nhỏ nhất ôm cái mũ kê-pi nhặt được đâu đó, khoe:
– Mẹ ơi, con đeo thử cái mũ chú công an nè!
Bà mẹ quát:
– Biến ngay! Đừng có ám quẻ mẹ, khách đang ghi âm đấy!

Tôi suýt phì cười, nhưng kịp ngậm lại, vì thấy bà giơ chiếc dép tổ ong lên như vũ khí.

Rồi bà quay lại, nghiêm nghị kể tiếp như đang điều tra:
– Người đầu tiên mở đường cho nghề… lấy chức là bà Đội Chóp. Bà ấy cưới ông công an đầu tiên ở Hà Nội, giàu có, nhưng sau về hưu chuyển nghề… khóc thuê đám ma. Vừa khóc vừa livestream, hút mấy ngàn follow. Đấy, thời nào cũng có người tiên phong cả!

Tôi không nhịn được cười:
– Thế ra, bà Đội là “influencer” đời đầu?
– Đúng! – bà Bu-Dích gật đầu dứt khoát – Cái công của bà ấy là làm chị em bớt sợ mấy ông quan mặt đỏ cổ to. Nhờ thế mà bao cô dám “cống hiến thân thể cho sự nghiệp… công quyền”!

Câu chuyện đang rôm rả thì hai bà bạn khác kéo đến, người thì khoác áo chống nắng, người vẫn đeo khẩu trang từ cổ chí trán. Một bà vừa bước vào vừa càm ràm:
– Gớm, con mẹ Bôn giờ lấy được anh trưởng phòng, ra dáng lắm! Nói chuyện mà cứ phẩy tay như ký công văn.
Bà kia đáp liền:
– Chờ đi, mai mốt anh trưởng phòng “chạy làng” là lại livestream khóc như bà Đội Chóp cho mà xem!

Cả bọn phá lên cười, âm thanh vọng ra ngoài làm mấy bác hàng xóm tưởng đang họp chi bộ.

Đang lúc cao trào, bà Bu-Dích quay sang tôi, nửa đùa nửa thật:
– Mà này, anh viết xong nhớ gửi bản thảo duyệt trước nhé. Thời nay viết báo không cẩn thận là “mất tích trong im lặng” đấy!

Tôi cười trừ, gật đầu lia lịa. Trong đầu chỉ còn vang lên một câu:

“Phụ nữ hiểu đời nhiều, ít khi sướng… nhưng nói chuyện thì cực kỳ giải trí!”

Tôi vẫn chưa hiểu tại sao bà Ách – vợ sếp phòng Tài nguyên – không những cho phép mà còn xúi tôi đi cùng Suzanne dạo quanh Bắc Ninh. Hay bà đang “set kèo” để kiểm tra độ trung thành của tôi? Hay là một màn thử lòng dưới danh nghĩa “đi thực tế”?

Dẫu sao, sau vài tiếng cà phê – chụp ảnh – “check in”, tôi cũng kịp gây ấn tượng với Suzanne là một gã “đàng hoàng, chững chạc, có tiềm năng thành… phó phòng”.

Tôi hỏi nhỏ:
– Cô đi chơi với tôi thế này, lỡ ai chụp hình tung lên mạng thì sao?
Suzanne cười, mắt long lanh:
– Tôi coi anh như anh trai mà, ai nói gì mặc kệ. Miễn là tôi không nghi tôi.

Nghe xong, tôi vừa vui vừa… đau. Vui vì được tin tưởng, đau vì chỉ được tin thôi, chứ không được “thương”.

Trên đường qua Võ Cường, mấy cô gái xinh xắn mặc váy công sở đứng bên quán trà sữa cười rúc rích. Suzanne thở dài:
– Con gái bây giờ toàn “cày view”, chứ không cày cơm.

Tôi đùa:
– Nhưng sao nhiều cô chẳng đẹp mấy mà vẫn “chốt đơn” được mấy anh công an, quan chức?
Suzanne cười khẩy:
– Anh không hiểu à? Đàn ông giờ không thích cái đẹp mảnh mai. Họ thích cái gì chắc chắn – ví như nhà, xe, sổ đỏ. Đẹp mà “rỗng ví” thì chỉ để like, chứ không để cưới!

Tôi cười gượng. Cô lại nói tiếp, giọng châm biếm ngọt như cà phê sữa:
– Còn mấy bà lấy được chồng to thì phần nhiều là… chồng mệt mỏi rồi. Quản nhân viên còn dễ hơn quản vợ, nên cưới vợ cho chắc. Vừa sai bảo được, vừa... đỡ đơn độc.

Cô ngừng lại, nhìn tôi:
– Tình yêu bây giờ không phải để mơ, mà để đầu tư. Hai bên cùng lợi thì yêu, chứ lệch quá thì “kê” sao nổi.

Tôi nghe mà lạnh gáy. Suzanne trẻ, xinh, thông minh – nhưng nói chuyện như một chuyên viên xã hội học.

Chúng tôi leo lên đồi phía sau khu đô thị mới. Dưới chân là dãy nhà lô san sát, phía xa là trụ sở công an lấp ló ánh đèn đỏ. Cảnh cũng nên thơ lắm – nếu bỏ qua mấy tiếng còi xe và bảng “Đất dự án – liên hệ môi giới”.

Tôi quay sang định nói lời tỏ tình. Suzanne nhìn tôi, mỉm cười nhẹ:
– Anh đừng nói. Tôi biết anh muốn… mà tôi thì không muốn.

Rồi cô cười, bước xuống đồi, để lại tôi – và cả một tập hồ sơ tình cảm… chưa kịp nộp.

…“Lịch sử là cái đinh để tôi treo những tác phẩm của mình.“ - Alexandre Dumas cha.

Dẫn nhập.

Theo “Trần Triều Thế Phổ” Huệ Võ Vương Trần Quốc Chân là con thứ 2 của vua Trần Anh Tông (1279 – 1293), là em của Trần Anh Tông, anh của Huyền Trân Công Chúa. . Vua Chiêm Chế Mân dâng 2 châu Ô, Rí làm đồ sính lễ cưới Huyền Trân. Tháng 6. 1306, Huyền Trân sang Chiêm làm hoàng hậu, được 1 năm vua Chiêm băng hà.

Câu chuyện bắt đầu từ đây.

********

Thượng tướng Trần Khắc Chung được lệnh vào gặp vua Anh Tông. Anh Tông ra đón Khắc Chung ngay cửa điện khoác tay đi vào vườn thượng uyển. Nhìn nét mặt đăm chiêu của Anh Tông, Khắc Chung nhận thấy một nét lo,

Có tin dữ từ Chiêm quốc báo về. Chế Mân vừa băng hà, theo mọi lệ xứ này, em gái ta phải lên giàn hỏa để tử tiết cùng chồng…

Khắc Chung đưa mắt nhìn vua Anh Tông, và cố ghìm trong mình một cảm giác khó tả. Xót xa ư! Cũng có. Đau buồn ư! Cũng có…Khắc Chung bỗng nhớ lại những năm trước đó, từ khi Khắc Chung còn mang họ Đỗ, chưa được mang quốc tính họ Trần…

Ngày ấy chàng trai họ Đỗ say mê luyện võ học binh thư. Mười tám tuổi đã nổi tiếng cả trấn Sơn Nam về tài võ nghệ. Vào một buổi chiều trên đường về Sơn Hạ, Khắc Chung gặp một lão nhân người nhỏ bé nhưng đôi mắt thật sáng như có thần ở bên trong. Nhìn Khắc Chung ông già lên tiếng.

Tiếc tài võ học chưa có căn nguyên, chưa chế được tâm, rộng mà chưa sâu, cương mà chưa nhu. 

Cao ngạo vốn là tính của họ Đỗ. Khắc Chung trả lời,

Thưa bậc cao nhân, xin cao nhân chỉ giáo vài đường cho kẻ hậu sinh.

Ông già vịn tay vào gốc cây. Chỉ nhìn những ngón tay như vuốt chim ưng cắm sâu vào thân cây để đứng lên. Khắc Chung sụp xuống bái ông làm sư phụ.

Lưu lại Sơn Hạ, khi ông già đã truyền hết tinh hoa dòng võ gia truyền, lúc hạ sơn ông nói: ta chấm được tướng số của con. Công thành, danh toại. Nhưng…

Thưa sư phụ, xin người nói hết.

Giang sơn nào cũng có luật. Luật là gốc là sách trời. Hãy lấy đức làm trọng, nếu không đến chết thân xác cũng khó nguyên lành.

********

Phò nhà Trần trong cuộc bình nguyên, từ một Đô Úy, Khắc Chung được phong Thượng Tướng. Có lần, vua Nhân Tông muốn sai người đi dò xét tình hình giặc. Khắc Chung xin đi, nói năng đối đáp với Ô Mã Nhi đâu vào đấy. Khiến Ô Mã Nhi phải thốt lên: người ấy đang lúc bị uy lực áp chế mà lời nói, sắc mặt vẫn tự nhiên, không hạ thấp chủ nó làm Chích, không nịnh hót ta làm Nghiêu. Nước nó có người giỏi như vậy chưa dễ đánh chiếm được. 

Và lại có lần để biểu diễn võ học trước mắt sứ Nguyên. Từ cung, kiếm, côn, quyền Khắc Chung đã làm cho sứ Nguyên kinh ngạc. Khi biểu diễn nội công, quân lính mang vào hai chậu nước. Tay bên phải Khắc Chung vỗ mạnh nước bắn ra ngoài không còn một giọt, tay trái ghìm xuống dùng đòn nhu, vận khí nước trong chậu xoáy vòng tròn không văng ra ngoài một giọt. Sứ Nguyên xanh mặt thán phục võ học của nước Nam. Tài trí của Khắc Chung được các danh tướng nhà Trần kính phục, và còn lọt vào cặp mắt xinh của cô em gái vua Anh Tông nổi tiếng tài hoa xinh đẹp Huyền Trân.

Nghĩ tới đó Khắc Chung không nén được tiếng thở dài nhớ lại đã bao lần cùng Huyền Trân tình tự. Ngày Huyền Trân biệt Thăng Long làm vợ vua Chiêm. Khắc Chung mượn rượu làm vui.

Tiếng vua Anh Tông cắt đứt dòng suy tưởng.

Ta tin cậy trao cho Thượng Tướng sứ mệnh: hãy bằng mọi cách cứu em ta về.

Khắc Chung dè dặt: Thế có nghĩa xé bỏ luật ngàn đời của Chiêm quốc?

Phường rợ mọi. Luật của nó không phải của nước Nam ta. Ngươi hãy lĩnh mệnh.

******** 

Với danh nghĩa vào Chiêm dự lễ tang. Đoàn thuyền của Khắc Chung lên đường được bốn ngày. Khắc Chung lựa rất kỹ toán “Thủy Đột” chỉ bốn mươi tay kiếm từng vào sinh ra tử nơi trận mạc. Ngoài ra, trước lúc lên đường Khắc Chung cho người gọi tướng cướp hải hồ Đinh Thiết, kẻ mà Khắc Chung thu phục được sau một cuộc đọ tài trên dòng Thiên Mạc. Đinh Thiết lúc trước trấn giữ cả thượng nguồn, hạ nguồn con sông, sinh ra ở làng Tức Mạc, lưu lạc giang hồ từ nhỏ. Đinh Thiết có biệt tài dùng ám khí. Khi giáp trận vũ khí sở trường là chiếc mái chèo bắng sắt. Gã tự tạo cho mình một chùm lưỡi câu đồng sắc bén nối với cuộc dây da trâu dài hai sải. Chùm lưỡi câu có thể móc mắt đối phương, xé nát ngực khi cận chiến. Để thu phục Đinh Thiết, Khắc Chung phải cùng Yết Kiêu lập kế đưa gã vào tròng, Khi cúi đầu bái phục Khắc Chung. Gã bỏ nghề cướp bóc sống bằng nghề đánh cá. Nhận được lệnh tiễn Đỗ Thiết mang bộ vũ khí thuở nào kéo theo hơn mười thủ hạ toàn những tay giỏi nghề sông nước, võ nghệ tuyệt luân và tuyệt đối trung thành.

********

Huyền Trân lặng lẽ đi lại nơi phòng riêng. Chỉ còn mấy ngày nữa nàng sẽ lên giàn thiêu cùng chồng theo đúng tục lệ nước Chiêm. 

Cái đêm Chế Mân sắp sửa nhắm mắt. Trời bỗng đổ mưa, hai con bạch tượng gào thét bứt tung xích chạy vào rừng như báo hiệu điềm gở. Túc trực bên long sàng cùng bầy thị nữ, đến nửa đêm ra hiệu đuổi hết thị nữ ra ngoài, chỉ còn lại Huyền Trân. Chế Mân nói đứt quãng qua hơi thở.

Ta chờ nàng ở bên kia. Nơi ấy mới là cõi vĩnh hằng. Nàng hãy cầm lấy chiếc gương này, nó rất linh thiêng tiên tri trước những gì sẽ đến ở tương lai, và chỉ linh nghiệm khi ta nhắm mắt. Nó cũng là lưỡi gươm trừng phạt kẻ nào ăn ở hai lòng, phá bỏ tục lệ của Chiêm Quốc.

Chiếc gương ấy giờ đây nằm trong hộc trang điểm của Huyền Trân. Đó là chiếc gương làm bằng sừng tê giác được đánh bóng có thể soi mặt mình vào được. Nạm xung quanh là vàng, ngọc. Nàng cất kỹ không dám soi, nỗi sợ hãi trùm lên công chúa nước Việt, vật sính lễ để đổi lấy hai vùng đất.

Và chỉ ngày nữa thôi. Nàng sẽ bước lên giàn hỏa.

Tiếng nhạc bi ai vang lên. Thi thể của vua Chiêm được cuốn kỹ trong lớp vải quý bọc sáp. Quân lính vây xug quanh dàn hỏa. cạnh đấy, một con voi bị trói chặt sắp sửa làm lễ vật cho vua Chiêm. 

Chiếc kiệu do bốn người lính khiêng ra xuất hiện. Huyền Trân mặc y phục hoàng hậu, châu báu đầy người. Theo sự chỉ dẫn của vị pháp sư mặc áo vàng, nàng bước lên giàn hỏa nằm xuống bên cạnh thi thể vua Chiêm. 

Ngọn lửa sắp bùng lên.

********

Chỉ nghe tiếng binh khí, những thân người đổ vật. Tiếng quân Chiêm thét lên sợ hãi.

Quân Việt! Quân Việt!

Mũi đột kích do Đinh Thiết dẫn đầu như khoan một mũi dao vào thẳng hàng rào quân Chiêm tạo thành một khoảng trống. Ở phía bên kia, người ta thấy một thân hình cao lớn dẫn một toán quân đánh tập hậu sau lưng quân Chiêm.

Một cánh tay rắn chắc đỡ Huyền Trân dậy. Mở mắt, nàng không thể tin người đó là Khắc Chung…

Đoàn thuyền nắm ngay cạnh bờ sông. 

Trăng lên. Trong khoang thuyền chỉ có hai người với cánh buồm căng gió. Khắc Chung và Huyền Trân lặng nhìn nhau không nói. 

Những chiếc thuyền khác cố làm chậm mái chèo, lùi ra xa.

Bên người tình thuở trước Khắc Chung quên hết, và Huyền Trân cũng chẳng nhớ tới chiếc gương bằng sừng tê giác. Đoàn thuyền nhằm hướng Thăng Long thẳng tiến, không ai để ý phía sau thuyền có một con cá lớn lặng lẽ bơi theo.

Thăng Long vẫn còn xa.

Đêm cuối cùng sống bên nhau, cả Khắc Chung và Huyền Trân không ai ngủ được. Huyền Trân hồi hộp vì sắp trở lại cố hương, 

Sáng đó, theo thói quen. Khắc Chung lấy thanh gươm báu ra tập luyện. Chàng bỗng giật mình khi thanh gươm chuyển sang màu đen kịt. Cũng rạng sáng, sực nhớ tới chiếc gương Chế Mân trao cho mình trước lúc lâm chung. Huyền Trân giở ra soi, nàng bỗng tái mặt khi thấy trên mặt gương rỉ ra hai giọt máu, vệt máu loang ra, mặt gương xỉn màu tro không còn soi được nữa.

Buổi trưa, khi gần đến cửa Chương Dương. Con cá lớn đằng sau đoàn thuyền bỗng bứt lên tung nước trắng xóa trước mũi thuyền, những giọt nước khi bắn lên thuyền biến thành máu đỏ.

Đinh Thiết và đám thuộc hạ lành nghề sông nước không thể phóng lao trúng được.

******** 

Kết

Về sau Văn Hiến Hầu muốn lập hoàng tử Vượng con của bà thứ đem một trăm lương vàng đút lót cho người nhà Quốc Chấn là Trần Phẫu vu cáo Quốc Chẩn phản nghịch. Vua đem giam và hỏi Khắc Chung. Khắc Chung vào hùa với mẹ hoàng tử Vượng thưa rằng.

“Bắt hổ thì dễ, tha hổ thì khó”. 

Vua cấm không cho Quốc Chẩn ăn uống cho đến chết. Sau này, Quốc Chẩn mới được rửa oan.

Khắc Chung khi mất được đưa về chôn ở Giáp Sơn, bị người nhà Quốc Chẩn là Thiệu Võ quật mồ vằm xương cốt.

Huyền Trân về Thăng Long được hai năm, mắc bệnh loạn trí suốt ngày chỉ nói tiếng Chiêm.

Cũng trong thời gian ấy. Người Thăng Long thấy xuất hiện một ông già làm nghề hát rong, hát rằng:

“Có tâm không giữ sẽ mắc nghiệp trời

Nuốt lời đời phụ mệnh trời ai hay”.

Ít ai biết được người đó là thầy dạy võ cho Đỗ Khắc Chung, từ thuở chưa mang quốc tính họ Trần,.

1/ TIỀN CỦA TÔI

Khi trở thành nhà văn có chút tiếng tăm trong một cộng đồng ít người đọc sách tôi hay được các bậc ” thời vang bóng” gọi tới tư gia nghe họ kể về quá khứ để chấp bút viết hồi ký.

- Tại sao các bác các chú không gọi ai mà lại gọi tao? Tôi hỏi con em út. Nó trả lời: vì anh thích tráng ca hơn tình ca.

Mẹ tôi thì bảo: số tử vi của con là làm nô bộc suốt đời.

Thằng Bình, bác sĩ phụ khoa đang tăm tia em gái tôi thì nói: nghề của ông anh vinh hiển hơn nghề em. Khám thai, nạo thai, hút thai, đỡ đẻ, chữa bệnh lậu cho các quý cô, quý bà. Khi hoàn thành công việc, chẳng lẽ lại ghi tên mình vào cái chỗ đó? Anh thì được ghi danh lên bìa sách, oai quá chứ còn gì. 

Nghe kể, ghi chép các sự kiện, thời gian, ở các bậc ” thời vang bóng” cũng nhàn. Im lặng, thi thoảng buông ra câu hỏi ngây ngô ví như: lúc khó khăn nguy hiểm đó, chú (hoặc bác) nghĩ tới điều gì? Tôi biết chắc câu trả lời bao giờ cũng có cụm từ: khí phách, trung kiên, xả thân, tự hào, kiêu hãnh, tin tưởng, tương lai…

Xã hội mà tôi sống chứa đầy bất trắc. Chói sáng quá thì bị dập tắt, tối quá thì bị dẫm đạp, khinh bỉ. Vì vậy, tôi chọn sự nhờ nhờ. Tôi có thể hát được chầu văn, cải lương, quan họ, chèo, tuồng, rock, hiphop theo yêu cầu mọi thứ khán giả, từ bình dân, trung lưu, cao cấp, trí thức, lưu manh…vì thế, tôi có lộc. Số tiền ứng trước để viết hồi ký bằng cả hai năm lương của ba tôi (một giáo sư bị thất sủng) khi buộc miệng nói đùa: quần Jeans Mỹ thực hiện thế giới đại đồng trước cả ông Marx.

Khi biết tôi có nhiều tiền, ba tôi nói: con về quê góp tiền xây mộ tổ cho họ nhà mình. Coi như đại diện cho ba, mẹ.

Và thế là tôi tung tẩy về quê. Ngồi nhìn khung cảnh qua cửa xe tôi hát..:” sáng hôm nay trên quê hương tôi. Quê hương xinh xinh quê hương hữu tình. Quê hương xinh xinh quê hương hòa bình …”

2/ TIỀN CỦA NHIỀU NGƯỜI

Tình gia tộc ở quê vẫn còn sâu đậm lắm dù ít nhiều cũng bị sự xâm nhập của nền văn minh đô thị cưỡng chế.

Sản phẩm của nền văn minh này là làng có quán Karaoke, quán nhậu, nhà tầng, nghiện hút, đĩ điếm, café Internet…

Về quê bao giờ tôi cũng tới nhà chị Lụa đầu tiên. Chị là người chăm nuôi tôi từ nhỏ khi tôi xa ba, mẹ trong năm tháng chiến tranh. Chị Lụa đẹp lắm và lanh chanh như con chim sâu.

Tôi bảo: ngày xưa, chị đi thi hoa hậu thì dứt khoát được vương miệm. Chị cười: không đâu em ơi! Hỏi về kiến thức, chị chịu thôi. Chị chẳng phân biệt được sông Hồng, sông Lô. Thủ đô nước Ý có phải là Paris không? Mà cái màn trình diễn áo tắm thì chị chào thua. Chân lội ruộng đỉa cắn thành sẹo, hắc lào thâm cả đùi, xấu hổ chết.

Tôi thấy chị nói đúng, nên lảng sang chuyện khác: sắp tới ngày giỗ anh rồi. Nhanh thật đấy!

Chị trả lời: em còn nhớ ngày giỗ chồng chị kia à? Chị nghĩ, những người chết bao giờ cũng trẻ. Mấy hôm nay, toàn mơ thấy anh về. Bụng bị banh ra, ruột gan lòng thòng, nhưng không thấy máu, cứ trắng nhởn. Tỉnh dậy, toát hết mồ hôi. Anh nói với chị: bán mấy cái nhẫn lấy tiền góp vào xây mộ tổ, trai hay gái đều phải có lòng với tổ tiên, đừng lo cho anh. Bên cạnh anh bây giờ toàn là đồng đội, vui hơn, thanh bình hơn trên đó rất nhiều. Chị đã bán nhẫn cùng mấy lứa lợn đủ số tiền để góp em à.

Bác Tính, anh ba tôi. Giảng viên trường đại học xây dựng. Khi tổng động viên bác sang Lào giúp bạn xây cầu cống, dính mìn phỉ Vàng Pao cụt một chân, giờ làm bí thư huyện. Bác chống nạng, (trên vai có con vẹt hệt tên cướp biển trong truyện “Đảo giấu vàng”) mà tôi đọc khi còn nhỏ. Con vẹt của bác chỉ biết chửi bậy, nó không biết phép lịch sự. Hình như với nó, chửi bậy, nói tục là sự giải tỏa những ẩn ức của loài chim. Hoặc nó làm người phát ngôn viên hộ ông chủ mặt lúc nào cũng cau có như người mắc bệnh táo bón và lòi rom.

Bác cho tôi xem bản thiết kế mộ tổ. Hoành tráng, có rồng, có lân, sư tử, hổ. Thằng Tình con bác, phóng viên báo “Nói Khẽ” thì thầm vào tai tôi: mộ này đặt tại Trung Quốc thì hợp hơn.

Bác Tính bảo: ngoài việc vẽ thiết kế, tao sẽ góp vào 35 triệu. Thằng Tình hỏi: Ba có nhiều tiền nhỉ? Bác nói: tiền này ngoài luồng. Muốn hỏi, thì hỏi lương của Chủ tịch Tỉnh là bao nhiêu mà con đi du học tự túc sang Mỹ? Mày đừng hỏi xuất xứ của tiền. Hỏi như cứt!

Con vẹt trên vai bác gật gù: hỏi như cứt! Hỏi như cứt! Hỏi như cứt!…

Chú Cả Đẫn về làng sau tôi một ngày. Chú đi cùng với hai thằng mặt sẹo chỉ nhìn hình dạng bên ngoài, người ngu cũng biết đó là dân dao búa.

Chú Cả Đẫn học võ từ bé. Các môn phái như Thiếu Lâm, Bình Định, Vịnh Xuân, Karate…chú đều thụ giáo. Chú có thâm niên đi tù, mà nguyên nhân do chú đùng đùng lên cơn hiệp sĩ ác tính. Khổ! Người chú đánh toàn con ông cháu cha, đi tù là đúng, chẳng có gì phải thắc mắc, rách việc!

Chú nói với bác Tính: thằng em sẵn sàng góp bạc tỉ cho việc xây mộ tổ. Còn bây giờ phải lượn ra thị xã thuê phòng ở hotel. Yên tâm đi, tiền của thằng này trong sạch. Không thì các cụ vật hộc máu mồm.

Bác Tính gắt: thằng du côn! Mày tưởng nhiều tiền mà muốn làm chó gì cũng được à!

Chú Cả Đẫn cười khì, nói với tôi: bài báo mày viết ca ngợi cái công trình cho người nước ngoài khai thác trên vùng cao, thối không ngửi nổi. Thằng liếm đít!

Con vẹt xoay tròn trên vai bác Tỉnh: thằng liếm đít! Thằng liếm đít! Thằng liếm đít!

Bác Uy Thứ trưởng Bộ “Không khí & Nước lã” đi xe về làng. Bác nói: tôi đã đặt tiệc cho cả họ ngoài thị xã rồi. Mỗi mâm năm người có rượu ngoại. (Cách đây hơn tuần) tôi thấy Bác lên tivi kêu gọi mọi người nên mua hàng nội để phát triển nền kinh tế nước nhà.

Bác Tính bảo: chẳng lẽ lại ra nhà hàng? Bác Uy xua tay: không! Nhà hàng sẽ mang vào tận nơi cho mình. Ra nhà hàng là thiếu gắn bó với tình làng nghĩa xóm, ông bà tổ tiên. Tôi hoạch định một cách vĩ mô để làm phục sinh những giá trị văn hóa làng xã truyền thống.

Chị Thuận – làm tiếp viên khách sạn “Nồng Nàn” ngơ ngác hỏi tôi: bác nói gì, chị không hiểu? Nghe có vẻ bí hiểm.

Cô Lan – hành nghề khóc thuê nói như mếu: bác Uy nhà ta mà đọc điếu văn thì tuyệt! …

Thằng Tình nói chen ngang: em nghe nói chị khóc hay lắm nên có của ăn của để. Hoan hô dòng họ nhà ta ai cũng kiếm tiền bằng chính khả năng của mình. Kiểu này chẳng mấy chốc dân giàu nước mạnh tổ quốc quang vinh.

Cỗ bàn sang trọng chẳng kém gì các nhà hàng ở thành phố lớn.

Họp họ tôi mới biết người trong họ tộc của mình làm nhiều ngành nghề khác nhau. Quan chức, trí thức, văn nghệ sĩ, công nông, công an, bộ đội, phe phẩy, du côn, làm đĩ, khóc thuê, bán máu…chỉ thiếu mỗi ca sĩ và diễn viên.

Thằng Hinh con bác Uy sống ở ngoại quốc hơn hai mươi năm giờ mới về làng. Nó bảo với tôi: vừa đặt chân về nước tao đã bị ăn tát. Tôi hỏi: sao? Nó trả lời: tao vỗ vào lưng cô tiếp viên hỏi mượn bản đồ du lịch Việt Nam. Ngờ đâu, lại vỗ vào ngực, mắt tao cận nặng. Với lại cô này lưng với ngực đều phẳng như nhau, mắt có tinh cũng nhầm, thế mà được tuyển vào làm tiếp viên hàng không.

Tôi bảo: chắc có người đỡ đầu. Ở bên đó mày làm gì, cuộc sống thế nào? Nó trả lời: học xong, tao thành lập công ty chuyên đánh hàng đồ lót phụ nữ cung cấp cho chị em toàn lãnh thổ EU. Tao có biệt danh: Hinh Xi Líp – Coóc Xê – nghe như tên thánh oai không? Tôi bảo: oai! Lẫm liệt. Nó nói tiếp: ngủ với lũ con gái Tây, tao phát hiện tám mươi phần trăm chúng nó mặc quần áo lót của công ty tao. Làm ăn như vậy là quá thành công, mặt tao luôn được úp vào cái ngàn vàng, cái thiên đường mà nhiều gã đàn ông thèm khát…

Bác Tính cho căng bản vẽ thiết kế quần thể mộ tổ cho mọi người cùng chiêm ngưỡng. Ai cũng khen. Anh Cả Đẫn nói: nên thêm mấy khẩu thần công cho giống lăng tẩm triều Nguyễn. Bác Uy góp lời: phải thả sen vào hồ cho thanh cao thoát tục. Thằng Tình đế vào: tiền đóng góp theo tính toán sơ bộ đủ khả năng mở một vườn bách thú nhỏ trong khu mộ tổ. Trong tương lai khu mộ họ mình sẽ trở thành điểm du lịch.

Bác Tính oang oang: không được! Chỗ các cụ nằm phải tĩnh lặng. Cây cối um tùm, trai gái có chỗ kéo nhau vào làm trò rửng mỡ. Làm thế là trát phân lên mặt các cụ.

Con vẹt trên vai bác kêu lên: 

Trát phân lên mặt các cụ! Trát phân lên mặt các cụ! Trát phân lên mặt các cụ!

Ngày xưa ở quê, Duyên cấy lúa, gặt chiêm, tối hát ví dặm, mơ màng “Anh đi đường cái quan”… Giờ thì thời thế đổi thay, “đường cái quan” hóa ra là quốc lộ bê tông, còn anh “đi đường” lại là mấy chú đi SH biển tứ quý, đeo kính đen, áo Gucci fake, tay cầm iPhone 15 Pro Max, mồm nổ “anh làm bên trên Bộ”.

Duyên theo bà Cẩm lên phố, được dạy cách “hóa thiên nga”: phấn má hồng, môi đỏ chót, lông mày xăm như sâu róm. Bà Cẩm thương cháu lắm, còn lôi cả bộ đồ second-hand “hàng Thái” ra cho mặc, dặn:
– Nhớ nhé, đừng mặc khi rửa bát, kẻo phai màu!

Ban đầu, Duyên cũng e dè. Nhưng rồi chỉ sau vài buổi “casting chồng” qua lời bà Cẩm, cô đã gặp một “quan chức” nghỉ hưu sớm, bụng bia, tóc bạc nhưng ví dày. Ông ta cười khà khà:
– Em chỉ cần yêu anh, còn lại cứ để anh lo!

Nghe bùi tai, Duyên gật. Được vài tháng, ông quan bị thanh tra “sờ gáy”, tài khoản đóng băng, bồ trẻ tan đàn xẻ nghé.

Duyên lại rơi vào cảnh “FA bất đắc dĩ”. Nhưng trời thương gái đẹp, cô bén duyên… công an khu vực. Anh công an này hứa hẹn chắc nịch:
– Anh sẽ bảo kê em. Ai đụng vào em, anh cho lên phường hết!

Nghe thế, Duyên tưởng mình đã tìm được bến đỗ. Ai dè, một hôm đi kiểm tra hành chính, anh công an bắt gặp Duyên đang livestream bán… mỹ phẩm xách tay không rõ nguồn gốc. Thế là từ “người yêu” thành “biên bản xử phạt”.

Duyên khóc lóc, than thở với bà Cẩm. Bà thở dài:
– Thôi con ạ, thời nay không nhờ chồng thì nhờ mạng xã hội. Đàn ông bạc như vôi, chỉ có livestream là không phụ ai!

Thế là Duyên bước sang chương mới: lên Facebook, Tiktok, livestream bán son, bán kem trộn, vừa bán vừa hát karaoke. Lạ thay, cái nét “quê quê” của Duyên lại hợp thị hiếu. Viewer nhảy vèo vèo, donate quà liên tục. Duyên bỗng nổi tiếng với biệt danh “Duyên tất hồng”.

Mỗi tối, trước nghìn con mắt online, Duyên cười toe:
– Anh ơi, tặng em bông hoa thì tặng thêm ngôi sao nha! Cảm ơn đại gia Lộc phát tám tám tám!

Ai bảo số phận hẩm hiu? Gái quê ngày nào bị chê “đần như bò” nay hóa “idol mạng”, tiền đổ về ào ào. Mấy ông công an, quan chức ngày xưa giờ cũng lén mở nick ảo vào “thả tim” cho nàng.

Chỉ tội, mỗi khi off livestream, Duyên lại ngồi một mình, nhớ lại cảnh bị bà Cẩm chửi mắng, chép miệng:
– Đúng là đời lá gió cành chim… gió thổi hướng nào, chim bay hướng ấy thôi!

Cái gọi là “nhà bên cạnh” thực ra chỉ là căn hộ vách mỏng đến mức… ho khẽ cũng vang qua như karaoke phòng kế. Chủ nhà khéo léo treo tạm cái rèm hoa cùng vài bức tranh mua ngoài chợ Đồng Xuân để che đi cái sự trống trải. Thế là từ phòng tôi, chỉ cần hé mắt một cái, tôi có thể “update” toàn bộ drama hàng xóm.

Bà Ách lúc đó đang lúi húi dưới bếp pha cà phê phin cho tôi. Không hiểu bà Kiểm Lâm đã PR tôi kiểu gì mà chủ nhà tiếp đãi tử tế quá. Cũng may, giờ bà ấy “nghỉ chồng” chứ không phải “nghỉ việc”, mà tuổi tôi thì thừa sức làm con bà nên chẳng ai nghi ngờ. Ở khu này, thiên hạ rảnh lắm, nhìn sai một cái là thành chuyện ngay!

Đặc biệt là cô con gái bà Ách – gọi là Su, vừa đẹp vừa phơi phới 17 tuổi – may mà đang đi Hà Nội, chứ không thì chắc tôi ngồi đây cũng bị “soi” ra trò.

Cái tính tò mò của tôi vốn xấu, nhưng nghe bà Ách vừa dọn giường vừa buông câu nửa đùa nửa thật:

– Bên kia cũng có mấy chị đang “tuyển chồng” đấy, biết đâu hợp gu ông?

Thế là tôi chẳng kìm được, nhón chân, khẽ vén tấm rèm hoa…

Ố ồ, bên kia có hai “chị em”. Một chị thì trùm chăn đọc tờ báo cũ mèm, còn một chị ngồi thừ ra ghế, mặc quần trắng, áo len xanh, chân đi tất hoa hồng. Mặt thì… thôi, cố trang điểm mấy cũng vẫn quê! Được cái bình tĩnh đến đáng nể: ngồi khoanh tay chờ “công danh” như triết gia ngồi thiền.

Đang ngó nghiêng, thì “keng!” – tiếng cốc va nhau. Bà Ách gọi tôi ra uống cà phê. Vừa nhấp một ngụm, bà ghé tai hỏi nhỏ:

– Bên ấy có mấy người?

– Hai thôi.

– Lạ nhỉ, nghe đâu mới có mấy “em” nhảy đầm Hà Thành sang đây. Chắc giờ đi vắng.

Tôi bật cười:

– Sang đây nhảy nhót hay tuyển chồng?

– Thì để tìm chồng chứ nhảy với nhót gì! – bà Ách bĩu môi – Ấy, ông có thấy một bà tầm tuổi tôi ngồi đấy không?

– Không để ý.

– Đấy, bà ấy là bà Cẩm. Ngày xưa trót lấy nhầm ông công an. Giờ chồng con không có, về già đành làm “mối bà Nguyệt”, sống bằng tiền hoa hồng. Khổ hơn bà Hai Yểng bên này nhiều. Nghèo, lại ham cờ bạc thì chỉ có xuống dốc thôi!

Đúng lúc đó, tiếng guốc lọc cọc vang ngoài hành lang. Ai đó vào phòng bên, rồi vang lên đoạn hội thoại nghe như hài kịch:

– Thế nào, được hay thua?

– Hời được có ba chục! Tao đói lắm, đi ngang hàng miến mà không dám ăn. Xem trong tủ lạnh còn gì không, hình như có cái bánh kem. Con Duyên, ra lấy mau!

À, hóa ra cái chị “tất hồng” tên Duyên. Mới nghe giọng bà Cẩm quát tháo là tôi đã động lòng thương. Duyên lúi húi tìm, rồi run run đáp:

– Thưa cô, có bánh, nhưng hộp bơ hỏng rồi… kiến bu đầy.

– Cái gì? Kiến bu bơ à? Trời ơi cái đồ ăn hại này! Chỉ biết ngồi đực ra thôi chứ không lo cái gì!

Tôi nghe mà xót xa. Duyên cúi đầu chịu trận, không cãi nửa lời. Cái kiểu “chịu đòn im lặng” này lại khiến tôi càng muốn… bảo kê.

Chưa kịp nghĩ cách, thì chị đang nằm đắp chăn cũng lên giọng:

– Duyên mà cứ ngơ ngơ thế này thì đến chó nó còn chê, lấy đâu ra chồng!

Thế là bà Cẩm được thể, quát thêm:

– Không chịu ở quê lấy anh nông dân nào cho lành! Lên thành phố bày đặt chê bai! Thân mày, bố mẹ mày nuôi chả ra gì, nghèo kiết xác, ăn cơm thì ho bắn tung tóe, người ta rước còn may. Còn bày đặt kén chọn!

Duyên vẫn im thin thít.

Tôi quay lại bàn, nhấp ngụm cà phê, nghĩ bụng: “Một cô gái ngây ngô thế này mà rồi cũng có ngày rơi vào tay mấy ông ‘quan chức’ thích đổi đời bằng vợ trẻ. Và đến lúc đó, lại sẽ có cảnh rên rỉ: ‘Anh yêu em lắm, mỹ nhân ơi!’ như kịch cũ lặp lại.”

Câu chuyện chưa kịp kết thì Suzanne – cô con gái bà Ách – bất ngờ về. Cô mặc đồ rất “xì tin” phố cổ, vừa bước vào đã tươi cười:

– Chào chú!

Ôi thôi, đúng là đẹp thì có đẹp, nhưng tôi chỉ biết ngượng nghịu, vội vã chào lại rồi chuồn. Chứ ở lại, thể nào tôi cũng thành nhân vật chính trong “hóng drama tập sau” mất!

Thành Hoàng làng tôi làm nghề bị gậy. Cứ ra giêng, con cháu trong làng bất kể giàu nghèo đều đi xin ăn khắp xứ trong khoảng một tháng trời, đó cũng là cách nhớ ơn ông tổ.

Năm nào tôi cũng về quê.

Ở đây, tôi được sống lại những năm tháng ấu thơ và hít thở không khí trong lành, lá phổi khử sạch mùi xú uế chốn thành thị rác rưởi.

Cha tôi bảo: Nghề chữ của con không bằng nghề ăn mày.

Mẹ nói: Khi đi khất thực mới hiểu được lòng nhân. (Đó là lý của người quê, ngay các bậc thánh chữ cũng khó giải thích).

Quê tôi có sông Lương, dòng sông thật hiền chảy lờ đờ như người mới ngủ dậy. Không hiểu từ đời nào, làng hai bên bờ thù nhau truyền kiếp. Làng Vĩnh (tên làng tôi), và làng Quảng ( tên làng bên), từ trẻ con tới người lớn luôn xảy ra các cuộc xung đột (cứ như thời Trịnh Nguyễn phân tranh).

Làng tôi có gia đình may mắn, và có những gia đình bất hạnh, những người ăn nên làm ra, đỗ đạt ông nghè, ông tổng, đem lại sự vinh hiển cho cả làng. Cũng có kẻ cả đời "bán mặt cho đất, bán mông cho trời", lam lũ.

Chuyện này thôi không kể nữa, bởi lẽ, chẳng riêng chuyện cộng đồng làng xã, mà nhìn ra bên ngoài đều có chuyện bi hài của mỗi số phận ( phần này xin nhường chỗ cho các nhà xã hội học, mấy ông thày xem tử vi, bói chân gà, xem quẻ, rút xăm).

 

1/ Bà Bần - Cái Thoan.

Làng sẽ là một địa danh trừu tượng, nếu không có những con người cụ thể.

Bà Bần, không phải là dân ngụ cư. Chồng đi lính thợ sang Pháp, một nách ba con, mười hai đứa cháu. Cái Thoan, cháu bà, bạn với tôi từ thuở còn cởi truồng tắm chung chưa biết ngượng là gì.

Theo mấy người đa sự trong làng, bà Bần bị thần sông phạt, khi trẻ bà tắm sông trong lúc có kinh, những giọt máu tanh tưởi ở cửa mình nhỏ xuống đúng lúc thần sông mở tiệc. Bẽ mặt với khách , các khanh hầu, chư tướng và thần dân nơi thủy cung, thần sông buông ra một lời nguyền: "Sẽ trừng phạt cả dòng họ bà, chỉ mình bà được sống để khóc người thân. Sự trừng phạt này thật khủng khiếp (phải có đầy quyền uy mới thực hiện nổi). Chưa hả giận, thần sông còn đem lại sự thâm thù cho hai làng bên sông (như tôi đã nói ở trên).

Ba đứa con bà Bần (và cả con dâu) đều lần lượt chết đuối trên dòng sông Lương hiền lành, nước chảy lờ đờ như người mới ngủ dậy. Tối nào bà Bần cũng ra bờ sông khấn vái xin thần sông rút lại sự trừng phạt. Trong đêm tối, bà xõa tóc, những đốm hương đỏ bỏng như mắt chó sói, nhập nhòe, ma quái, huyền bí. Lời cầu xin của bà như sau:

Thần sông ơi!

Xin hãy đem lời nguyền ra biển

Để người bao dung hơn

Tôi phải khóc ba đứa con đứt ruột đẻ ra

Lại phải khóc cho bao đứa cháu

Tất cả chết trên dòng sông của người

Thần sông ơi!

Chẳng lẽ vô tình làm hoen ố cuộc vui

Người giận lâu đến thế

Mẹ của người cũng sinh người từ máu

Mẹ của người cũng có kinh

Nhỏ xuống dòng sông   

Để cho tôi uống

Hãy nghe và nhìn

Hay là tôi một phút

Người sẽ thương tôi

Thần sông ơi!

Đừng bắt lũ cháu tôi phải chết

Xin hãy dìm tôi

Thế mạng cho người vô tội.

Tôi và cái Thoan hay thả trâu ngoài đồng, ngoài bãi, đầu nó khét nắng và chấy thì nhiều vô kể. Chọi cỏ gà, khi thua nó ra điều kiện: Phải bắt hai mươi con chấy, bắt được con nào tôi đều cắn tách một cái, máu của những con chấy hay máu của cái Thoan đều ngọt, ngon, hơi mằn mặn một chút.

Mẹ tôi nhìn cái Thoan chép miệng: Tội nghiệp! Bé thế đã mồ côi để bác chữa chấy cho cháu.

Hôm sau, mẹ lấy hạt na giã ra trộn với rượu ủ lên đầu nó, trùm khăn kín lại:

Cháu để một ngày, một đêm mới được cởi...

(Tài thật, đầu nó chẳng còn con chấy nào, kể cả trứng).

Và cũng từ đấy, khi chơi chọi cỏ gà, nó ra một điều kiện khác. Nếu tôi thua, nó bắt tụt quần để búng vào chim, thua nhiều, có lần chim sưng tấy. Tôi tức lắm, cố tìm cách trả thù, khi nào thắng (thường rất hiếm), tôi kéo quần cái Thoan véo và bẹo chỗ đùi non, khiến con bé thét lên đau đớn. Tôi hả hê như viên tướng thắng trận, sung sướng gào như một kẻ khốn cùng trúng sổ xố độc đắc.

Tôi hay kể chuyện đời xưa cho nó nghe (đa số là bịa). Các câu chuyện thường kết thúc giống nhau, ví dụ như: "Cô con gái nghèo khổ lấy được hoàng tử con vua, nàng đem vàng bạc phân phát cho người nghèo", hoặc: "Con hổ gầm lên một tiếng, rồi chạy thẳng vào rừng". Nghe kể xong, cái Thoan nói:  Ngày xưa có tiên, có phật, cầu được, ước thấy, bây giờ tớ cầu khấn mãi mà chẳng được gì.

Tôi đã nhìn, đã nghe cái Thoan cầu nguyện. Não nùng, bi thiết, thương cảm lắm! Nó cầu nguyện thế này:

Sông ơi!

Đừng bắt bà cháu đêm nào cũng phải quỳ

Dòng họ cháu là người

Như cá như tôm con cái của sông bơi lội

Làm cho thần nguôi giận

Nhà cháu đã cúng về thủy cung từng ấy con người

Bà mỏi tay chít khăn tang cho bầy cháu

Lá vàng khóc lá xanh

Thần đừng bắt những người thân lần lượt ra đi

Trở về bằng cái chết

Dù lập miếu để thờ

Ê chề xôi thịt

Người đã chết làm sao ăn được

Chết vì thần sông

Chẳng ai gọi là anh hùng cả

Hỡi thần sông!  

Thần hãy rộng long như mẹ người là biển

Hỡi thần sông!

Mong hãy cười quên giận

Đừng làm ngôi nhà cháu

Không còn một ai

Ơi hỡi thần sông!

Rủ lòng thương yêu

Đừng nuôi thù hận

Đập đầu xuống đất

Rộng cõi từ bi.

Học hết cấp hai, tôi lên huyện học, Thoan ở nhà không học nữa. Thỉnh thoảng về quê gặp lại, hai đứa không còn được tự nhiên như trước.

Có lần tôi rủ Thoan lên xã xem biểu diễn văn nghệ. Thoan mặc áo trắng, quần lụa đen, bím tóc dài buộc khăn mùi xoa Trung Quốc. Thoan rang ngô mang theo, bắt tôi ăn, Thoan nói: Ngô làng mình ngọt vì có  nước sông Lương.

Xem chèo, tới đoạn một chị dân quân cả nhà bị chết vì bom Mỹ, dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay phản lực. Tên phi công nhảy dù, đứng hát chèo (theo điệu sắp qua cầu) giữa sân khấu:

Tên tôi là phi công Mỹ

Là Mỹ i...i...i lái thần sấm con ma

Bị bắn rụng bắn rơi i...i...i

Tôi xin mọi người tha tội cho tôi...

Thoan bảo: Xem ra, chèo nhà mình hay thật, phi công Mỹ cũng biết hát.

Kết thúc vở chèo, chị dân quân nén đau thương trói tên phi công trao cho tỉnh đội.

Thoan nói: Người Việt Nam rộng lượng với kẻ ngoại tộc, nhưng hẹp hòi với đồng tộc. Làng Vĩnh nhà mình, và làng Quảng tới giờ vẫn thù nhau.

Tôi hầu như không chú ý xung quanh, chỉ mải nhau ngô, lục cục như cọp nhai sỏi...

Thoan chết khi tròn mười tám tuổi.

 

Mẹ kể: trâu nhà Thoan đứt dây nhảy xuống sông. Thoan bơi theo, vượt qua địa phận Cồn Nổi (Ranh giới chia đôi dòng sông với làng Vĩnh và làng Quảng). Lũ trẻ làng Quảng thi nhau ném, chắc một viên đá nào đấy trúng đầu Thoan.

Dòng sông Lương cuốn Thoan đi, phải ba ngày mới tìm được xác.

Bà Bần khóc ngất bên xác cháu...

Dòng sông vẫn chưa xóa lời nguyền.

 

Đêm ấy, không trăng. Tôi lang thang dọc bờ sông dưới ánh sáng mập mờ của ngàn con đom đóm. Tôi nhìn mặt sông và tưởng tượng đó là một lão già gớm ghiếp, hể hả cười độc ác. Gió từ mặt nước hắt lên lạnh buốt nổi da gà. Như kẻ mộng du, tôi lấy bùn trát vào mặt. Mờ sáng, trở về nhà, mẹ hỏi: "Con đi đâu suốt đêm mà mặt mày đờ đẫn thế kia?".

Tôi trả lời: "Con đi tìm cái đã mất, ngọt ngào chẳng có đâu mẹ ạ!".

Cha bảo: "Kẻ đê tiện thì được sự ngọt ngào, bậc quân tử thì suốt đời ăn cứt". Cứ như lão Quắn mà hay, chẳng màng tới thế sự.

 

2/ Lão Quắn.

Lão Quắn là dân ngụ cư. Gốc gác, lai lịch của lão chẳng ai biết.

Có người bảo: "Ngày xưa lão từng làm quan, lên xe, xuống ngựa, kẻ hầu người hạ". Cũng có lý, lão hiểu biết chữ nghĩa thánh hiền, thông làu kinh sử, biết cả tiếng Tây.

Lại có người nói: "Lão là một tên tướng cướp khét tiếng, mai danh ẩn tích, gác kiếm giang hồ", xem ra cũng đúng.

Tôi từng thấy lão tay không đánh gục cả đám trai làng Quảng có vũ khí. Đó là lần đầu tiên lão ra  tay, vì đám trai làng Quảng vượt sông sang trộm khoai hợp tác và đánh anh dân quân chảy máu đầu.

Lão Quắn sống một mình, nuôi thân bẳng nghề câu cá, trồng rau. Nhà lão nằm cuối xóm, sát chân núi Chúa, âm u lạnh lẽo như miếu cô hồn.

Lão hay nhờ tôi đổ cháo vào lá đa cúng vong linh chết vất vưởng, không người thân thích, đầu đường xó chợ, vào dịp rằm tháng bảy.

Lão thủ thỉ: "Có hồn đấy! Tôi vẫn hay nói chuyện với họ, chẳng phải giữ gìn ý tứ gì cả, người chết chẳng hại ai bào giờ, ho biết hết mọi việc tốt xấu của người đang sống".

Lão khuyên tôi: "Người đời xưa học vì mình, có nghĩa để tu thân giúp đời. Người đời nay học cốt mua danh, ít kẻ thực tài, cậu nên học theo lối người xưa".

Tôi hỏi: "Thế nào là giúp đời, và thế nào là không giúp đời?".

 Lão bảo: "Nếu vua là bậc đấng minh quân, hoc rồi nên ra làm quan. Nếu vua là bậc vô ân thì nên ở ẩn. Thiên hạ tốt mà mình nghèo thì đáng xấu, thiên hạ hắc ám mà mình phú quý thì nhục!".

Tôi nhe răng: "Quan nổi tiếng khắp cõi cần gì đến vua".

Lão bảo: "Làm quan mà nổi tiếng có thể là giả dối, ra bộ nhân từ, song xét ra là mưu lược kẻ "Đào tường khoét vách" ".

Tôi nói: "Khó phân biệt lắm, cháu thấy các ông quan đều oai".

Lão cười: " Tự mình biết, cứt trong ruột sẽ lòi ra, khó dấu"

Tôi hỏi lão: "Bác ngày xưa đã từng làm quan phải không, hay làm tướng cướp?".

Lão lại cười (hiền như nghé): "Quan với tướng cướp nào có khác nhau, có khác thì ở chỗ phương tiện và cái tên gọi mà thôi".

Tôi bảo: "Làm tướng cướp oai hơn nhiều, xenh xang một cõi".

Lão gắt: "Bậy! Khối kẻ tự giết mình, hảo hán chốn Lương Sơn thì thiên hạ vẫn cho là giặc cỏ".

 

Lão hay làm thịt chuột cho tôi ăn, cầu kỳ, công phu cả buổi. Chuột lão bắt về là chuột đồng, béo núc. Nhìn lão đun nước làm lông, sốt cả ruột. Nước đun không quá sôi, tăm sủi lăn tăn, lão nói: "Con chuột ngon nhất là bộ da, nước nóng sẽ làm hỏng, không được nôn nóng. Nhúng chuột vào, làm sạch lông, nhớ cắt bốn quả hoi, không thì hôi, chó cũng không dám ăn. Chuột vớt ra phải xát muối, bỏ đầu, ruột, gan, chân. Đun nước lần nữa, bỏ ra trần, nước trong vớt chuột ra, để cho ráo, sau mới luộc, thái lá chanh, chấm với mắm, tỏi, ớt, còn món nướng và rang nữa, tôi sẽ lần lượt cho cậu thưởng thức.

Có thịt chuột, có rượu, lão khề khà gõ đũa và hát, lời bài hát nghe như khóc, nhưng quá ngang tàng:

Trời cũng chẳng là gì

Đất cũng vậy

Ta là người ngủ trọ

Thấy vinh hoa là mơ

Ta cô độc

Đàn bà giống hoa hồng

Hoa có gai

Kẻ hèn sợ gai đâm

Ta rút kiếm chem. Phăng

Làm người sở hữu xác hoa khô

Nôn tình yêu ra chiếu

Không tiêu nổi một con đàn bà

Ta ỉa vào thánh thần

Vào lăng tẩm của những tên bạo chúa

Chỉ mình ta là người

Thiên hạ mang mặt nạ

Nhưng tất cả đều là chó sói

Ta nguyền rủa kẻ sinh rat a

Cái thân hình méo mó

Được tạo bằng sự dâm ô của bố mẹ ta

Lá ... là ... la...

Trong hồn ta

Có lời nguyền của dòng sông

Trừng phạt một bộ lạc da vàng man rợ

Da ta cũng vàng

Sự trừng phạt sống suốt đời cô độc

Nhưng ta không cô đơn

Ta có bạn là ma

Có người yêu là quỷ

Ta sẽ hiếp mặt trời

Sẽ bắt cóc mặt trăng để đòi tiền chuộc

Sẽ lấy sao làm gia vị

Tẩm vào thịt chuột

Ta vẫn là ta

Nghèo tiền mà tâm hồn xa hoa

Ta chỉ một mình

Không vợ con gia tài chẳng có

Dòng sông ơi!

 Lời nguyền của người

Gây ra cuộc chiến

Hận thù chỉ xóa được bằng thơ

Tiếc ta không là thi sĩ

Hoa giải lời của con sông

Đừng bắt dân đen

Phải chết vì sợ mất long kẻ khác

Người không biết ca dao

Cả tiếng Việt người còn nói ngọng

Đừng bắt lũ ta

Phải nói bằng ngôn ngữ

Kẻ da trắng tóc vàng

Da đỏ mắt đen

Tất cả bộ lạc này sinh ra từ bọc trứng

Bầu, Bí...Lá...Là...La...

Ta vẫn là ta. 

Hát xong, lão nổi hứng nhảy ra sân múa võ. 

Chập chờn, chân lão cày trên đất tạo ra những đường rãnh, loang loáng chỉ nghe tiếng gió khi lão đi quyền. Hết bộ xà, tới hầu quyền, môn phải của lão khó tìm được căn nguyên. Chắp vá, đểu, đòn độc, rõ phường lục lâm thảo khấu. Lão xỉa tay vào cây chuối hột, xoay chân tung cước vỡ cái chum Bát Tràng, húc đầu làm sạt cả bức tường đất. 

Lão hỏi tôi: "Có thích học võ không?". 

Tôi trả lời: "Người cháu nhỏ, chẳng dám". 

Lão bảo: "Người nhỏ có sao đâu, nhu thắng cương, dây lụa trói được voi". 

Tôi nói: "Phải dùng đến võ là hèn". 

Lão bảo: " Đúng vậy, hữu dũng thường vô mưu, cố mà học chữ". 

Lão Quắn tự tìm đến cái chết, hay cái chết tìm đến lão, khó biết. 

Bố tôi kể: "Sông Lương năm ấy dâng nước (hơn năm mươi năm mới có một lần). Lão Quắn uống rượu say, chết đuối ngay ở nhà mình. 

Lời nguyền của dòng sông không tha cho kẻ ngụ cư. 

 

3/ Kết. 

Đọc xong truyện ngắn này, vợ tôi hỏi (thị có kiến thức về văn học, hiện đang làm việc cho một tạp chí Trung ương): - chuyện này theo anh có mấy nhân vật? 

Tôi nói: "Ba!". 

Thị bảo: "Không phải, bốn, cả dòng sông nữa. Anh nên sửa lại những đoạn thơ, lời khấn, lời hát của các nhân vật. Bỏ cái đoạn Thoan nói khi nghe hát chèo, đại ý: ..."Dễ tha thứ cho kẻ ngoại tộc..." 

Góp ý tới đấy, thị ngừng, gã trợ lý cho tổng biên tập tới đón thị như mọi khi. Gã toe toét cười chào tôi. 

... Đêm. Trong giấc mơ, tôi thấy Thoan hiện rõ. Thoan đi trên mặt nước, mặc bộ đồ trắng trinh nguyên, Thoan nói với tôi: "Anh hãy đem lời khấn của em đốt, trộn vào máu của ai không có sân, si, như vậy sẽ giải được lời nguyền của dòng sông... 

Tôi sực tỉnh. Khi nghe Thị gọi điện: "Anh Q. Em chỉ yêu anh thôi, em chán thằng chồng em lắm rồi, nó đần độn hơn những gì nó viết ra..."  (té ra tôi đã bị cắm sừng) - Q là tên gã trợ lý tổng biên tập nơi tòa soạn thị đang làm việc.

 

Hôm sau, tôi về quê. Đêm ấy ra bờ sông ngồi khóc khi nghĩ tới lời Thoan trong giấc mơ. Lấy đâu ra máu của những người không có sân si (điều này may ra chỉ có ở các bậc tu hành). Nhưng xin máu của họ bằng cách nào? Tôi không muốn làm kẻ sát nhân. Hãy tha thứ cho anh, Thoan ơi! Lời nguyền của dòng sông quả là khắc nghiệt.

 Tôi nấc lên khi ý thức được mình giống bèo bọt trôi trên sông không thắng nổi dòng chảy định mệnh.

  Sông Lương vẫn trôi, nó nhìn tôi như chế nhạo.

Sáng hôm sau, ông chồng bị “mời lên xét xử” ngay tại nhà. Thay vì phòng xử án tráng lệ, hội đồng gồm bà vợ, công an tuần tra và vài hàng xóm tò mò ngồi chật phòng khách. Trên bàn, chén trà còn nóng, máy tính bảng mở sẵn để… livestream cho toàn xóm theo dõi.

Bà vợ, tay chống hông, mắt lườm ông chồng:

– Hôm qua mày dám đuổi tao ra đường, hôm nay phải ra hầu tòa!

Một công an trẻ cười:

– Phiên tòa tại gia thôi, mọi người giữ trật tự, không cần phải mang dùi cui.

Ông chồng ngồi, miệng lắp bắp:

– Thôi mà, chỉ là hiểu lầm…

– Hiểu lầm? – bà vợ giơ điện thoại – Mày quên rồi à? Tao đã livestream cảnh mày la hét, đấm đá tao trước cả khu phố!

Hàng xóm cười rộ, một bà cụ đứng cạnh:

– Ủa, công an còn phải can thiệp, mà ông ấy dám đánh vợ hả?

Một cán bộ tuần tra liếc ông chồng, nghiêm nghị:

– Ở đây, luật lệ rõ ràng: bạo lực gia đình, dù nhỏ, cũng không được bỏ qua. Anh sẽ viết cam kết và… tập hợp ý kiến của tất cả các bên.

Bà vợ lập tức đưa danh sách yêu cầu:

– Anh phải xin lỗi tôi, xóa video hôm qua, mua hoa hồng mỗi tuần, và… không được cãi nhau nữa!

Ông chồng gãi đầu, trông như sắp ngất:

– Thôi, thôi, được rồi!

Các hàng xóm cười ầm, trẻ con nhảy quanh, một vài bà còn vỗ tay hò reo:

– Đúng rồi, bắt nó phải chịu trách nhiệm!

Công an giọng nghiêm:

– Đây là “phiên tòa thử nghiệm”, nhưng cũng là bài học: nhường nhịn, tôn trọng, và… nếu vi phạm, lần sau sẽ… nghiêm trọng hơn.

Ông chồng hạ giọng, thề non hẹn biển:

– Từ nay tôi tuyệt đối không đuổi vợ ra đường nữa!

Bà vợ cười nhạt, nhưng ánh mắt vẫn lấp lánh:

– Nhớ lời hứa đó, còn không… phiên tòa sẽ kéo dài cả tuần!

Mọi người phá lên cười. Tôi đứng bên, ghi chép, thấy rõ: cuộc sống hiện đại đôi khi chỉ cần một “phiên tòa gia đình” để biến bạo lực thành… hài kịch, nơi công an, hàng xóm và cả truyền thông xã hội đều tham gia điều hành.

Bên ngoài, mưa nhẹ rơi, ánh sáng đường phố lấp lánh. Tôi thầm nghĩ:

“Đúng là kỹ nghệ hôn nhân thời nay: một ông chồng, một bà vợ, và cả… phiên tòa tại gia, nơi ai cũng là quan tòa và luật lệ do mạng xã hội đặt ra.”

Trời tối, đường lầy, sau khu chung cư cũ lúc 10 giờ đêm, tôi đi như một phóng viên lang thang, mắt chỉ thấy bóng đen và những vũng nước lấp lánh. Mỗi bước chân là một pha mạo hiểm: giày chồm xuống bùn, téch một cái, tai nghe xa xa tiếng xe máy rú, tiếng chó sủa, mà trong lòng vẫn phảng phất cảm giác… yên bình kiểu “được hòa mình vào đêm tối như một sinh vật vô danh”.

Một ánh đèn đường lóe lên, le lói soi được vài mét đường. Giày tôi vừa mới thoát khỏi vũng bùn cũ, đã rơi thẳng xuống bùn mới. Trước mặt, những vết bánh xe như rắn bạc bò ngoằn ngoèo khắp mặt đường. Tôi rùng mình nghĩ: “Đi tiếp nữa thì đúng kiểu phiêu lưu sinh tồn rồi, nhưng thôi, vẫn phải tới nhà cô bạn ở xóm Cổ Mễ.”

Chợt, từ xa vọng lại những tiếng la hét:

– Ê, mày tưởng tao là cái gì mà bỏ đi không báo, không trả tiền nhà hả? Mày cút ngay khỏi đây!

Một giọng phụ nữ khác gắt lên:

– Không! Đi ra đi, hết giờ rồi!

Tôi tiến lại gần, thấy trong sân một cảnh tượng… không thể hài hước hơn. Trong ánh sáng yếu ớt từ bóng đèn leo lét, một ông chồng – dáng người to lớn, áo sơ mi nhăn nhúm, tay chống hông – bị một bà vợ áo trắng cứng cỏi “xỉa xói” bằng lời lẽ chua chát.

Ông chồng đứng im, hai tay buông xuôi như thử “kiểm tra phản xạ” của đối phương. Bà vợ thì chỉ tay ra đường, giọng lắp bắp:

– Bước ngay tức khắc, nếu không là… gọi công an xử lý!

Ông chồng hít một hơi dài, giọng bình thản:

– Nói lại xem nào, mấy câu vừa rồi của bà đấy?

Bà vợ gằn giọng:

– Tao không sợ mày đâu! Nếu mày dám làm gì bậy bạ nữa, tao trình cơ quan, kéo mày ra tòa án luôn!

Bốp! Một cái tát nhẹ, bà vợ lùi lại hai bước, tay bưng mặt, đứng im. Nhưng ông chồng, hình như không muốn dừng, lại giương hai tay “tặng” cho bà một cử chỉ đe dọa kiểu… võ thuật gia nghiệp dư. Ngay lập tức, tiếng trẻ con ở xung quanh oà khóc, một cậu bé khoảng 10 tuổi chạy sang nhà hàng xóm đập cửa kêu cứu.

Chỉ trong vài phút, hai nhà bên cạnh cũng mở cửa, công an khu vực xuất hiện, quần áo ngủ vẫn nhăn nhúm, chạy sang can thiệp. Phố xá sau giờ nghỉ tối bỗng đông như chợ Tết.

Tôi đứng lặng, quan sát. Lạ thật! Trong khi các “lính” bận rộn trấn áp, các bà phụ nữ và trẻ con nhìn tôi với ánh mắt tò mò như tôi là… diễn viên khách mời.

Bà vợ, thở hồng hộc, xoa mặt, xoa lưng rồi tự nhiên hất hàm:

– Đi gọi công an tuần tra ngay!

Một trong các công an lẩm bẩm hỏi tôi:

– Này, mày đứng đây làm gì?

– Tôi là phóng viên, đến lấy tin về sự việc này.

Ông ta nhún vai, giọng dịu hẳn:

– Vợ chồng đánh nhau thì chuyện thường thôi…

Một công an trẻ hơn, mặt sáng sủa, lịch lãm, mỉm cười hỏi tôi:

– Thế ông định viết về ai, người chồng hay người vợ đây?

Tôi cười khổ:

– Ở nước tôi, vợ chồng đánh nhau là chuyện bình thường. Tôi chỉ kính phục các ông thôi, dám gác chuyện riêng, bảo vệ một phụ nữ trong lúc bạo lực.

Người công an lịch sự gật đầu:

– Chính thế. Chúng tôi không dùng bạo lực với phụ nữ. Dù người vợ có nóng tính thế nào, người chồng cũng nên nhường nhịn.

Bốn cán bộ tuần tra kéo đến, dẹp xong, hai ông hàng xóm mới thôi “thêm dầu vào lửa”. Người chồng bị đưa đi, lân bang kéo nhau về nhà ngủ. Chỉ trong vài phút, phố yên tĩnh trở lại.

Nhưng hình ảnh ông chồng cười gằn, nửa hứa hẹn… nửa giận dữ, khi bị đưa đi dưới sự giám sát của công an, vẫn in sâu trong tôi. Và tôi còn nghe văng vẳng câu cuối:

– Bị công an xử lý xong mà còn tái phạm nữa, lần này… đi luôn!